Lễ dạm ngõ
Lễ dạm ngõ là buổi gặp gỡ chính thức đầu tiên giữa hai bên gia đình. Nhà trai đến thăm nhà gái, xin phép cho đôi trẻ qua lại, bàn bạc về tương lai. Lễ vật đơn giản: trầu cau, chè, thuốc lá, bánh kẹo trong máp nhỏ.
Đây là dịp hai bên tìm hiểu, ngỏ ý muốn tiến tới đính hôn. Không khí trang trọng nhưng không cầu kỳ.
Lễ ăn hỏi (đính hôn)
Lễ ăn hỏi thông báo chính thức việc gả con gái. Nhà trai mang tráp (mâm quả) sang nhà gái. Số tráp: miền Bắc thường số lẻ (3, 5, 7, 9, 11) tượng trưng sinh sôi; mỗi tráp bên trong số chẵn (cặp gà, cặp rượu). Miền Nam chuộng số chẵn (4, 6, 8, 10) tượng trưng có đôi có cặp, trọn vẹn.
Lễ vật thường có: trầu cau, chè, rượu, bánh cốm hoặc bánh phu thê, hoa quả, lợn quay hoặc gà luộc, xôi gấc, áo dài, trang sức (tùy sức). Sau lễ, cô gái chính thức là vợ sắp cưới.
Lễ cưới và đón dâu
Lễ cưới là ngày trọng đại. Đoàn nhà trai đến đón dâu. Trước đó có lễ xin dâu (mẹ hoặc bác mang trầu rượu báo giờ hoàng đạo). Cô dâu chú rể ra mắt họ hàng hai bên, trao hoa cưới.
Về đến nhà trai: bái gia tiên nhà trai (giới thiệu nàng dâu với tổ tiên), mời trà họ hàng. Tại nhà gái trước khi đi cũng có bái gia tiên tạ ơn.
Lễ lại mặt
Thường diễn ra ngày thứ hai hoặc thứ ba sau cưới. Vợ chồng trẻ mang lễ vật nhỏ (gà, trái cây, bánh kẹo) về thăm bố mẹ đẻ nhà gái. Ăn cơm với gia đình, giúp cô dâu bớt nhớ nhà, gắn kết hai bên thông gia.
Kiêng kỵ phổ biến
- Kiêng cưới vào tháng 7 âm (tháng cô hồn), ngày Tam Nương, Dương Công kỵ nhật, Nguyệt Kỵ.
- Không chọn ngày giờ xấu cho đón dâu, bái gia tiên.
- Cô dâu chú rể không nên khóc trong ngày cưới (kiêng nước mắt).
- Không đeo đồ trang sức cũ của người đã khuất trong ngày cưới.
- Sau cưới, kiêng về nhà gái ngay trong 3 ngày đầu (trừ lễ lại mặt).